Truyền thông y tế: Khi thông điệp cứu người được viết bằng trách nhiệm (Hướng tới kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026)
Có những bản tin được đo bằng số lượt xem. Có những bài báo được ghi nhận bằng lượng tương tác trên các nền tảng số. Nhưng cũng có những thông điệp không thể đong đếm bằng những con số thông thường, bởi giá trị của chúng nằm ở những hành vi được thay đổi, những nguy cơ được ngăn chặn và đôi khi là những sinh mạng được bảo vệ. Đó chính là ý nghĩa sâu xa của truyền thông y tế – một lĩnh vực đặc thù, nơi mỗi thông tin đưa đến cộng đồng không chỉ là hoạt động truyền tải kiến thức mà còn là một phần của công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe Nhân dân. Đằng sau những thông điệp ấy là trách nhiệm, sự cẩn trọng và tâm huyết của những người làm truyền thông y tế, những người đang ngày ngày lặng lẽ góp phần xây dựng “hàng rào” phòng vệ từ nhận thức để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Ảnh: Một buổi truyền thông về phòng bệnh Covid-19 tại TYT xã Cẩm Tú, tỉnh Thanh Hóa
Khi truyền thông trở thành một “liều vắc xin” đặc biệt
Trong y học, phòng bệnh luôn được xem là giải pháp hiệu quả và bền vững hơn chữa bệnh. Để phòng bệnh, ngoài các biện pháp chuyên môn, truyền thông chính là cầu nối đưa kiến thức khoa học đến với người dân. Một khuyến cáo rửa tay đúng cách có thể giúp ngăn ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm. Một thông điệp về tiêm chủng có thể giúp trẻ em được bảo vệ khỏi những căn bệnh nguy hiểm. Một bài viết cảnh báo tác hại của thuốc lá có thể khiến ai đó quyết tâm từ bỏ thói quen gây hại cho sức khỏe. Một chương trình truyền thông về khám sức khỏe định kỳ có thể giúp phát hiện sớm bệnh tật và tăng cơ hội điều trị thành công. Nhìn từ góc độ đó, truyền thông y tế giống như một “liều vắc xin” đặc biệt. Nó không tạo ra kháng thể trong cơ thể, nhưng tạo ra “kháng thể nhận thức” trong cộng đồng, giúp mỗi người biết cách tự bảo vệ mình trước các nguy cơ đối với sức khỏe.
Những năm qua, cùng với sự phát triển của ngành y tế, công tác truyền thông giáo dục sức khỏe đã từng bước đổi mới và khẳng định vai trò quan trọng trong các chương trình y tế quốc gia. Từ phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng, an toàn thực phẩm, phòng chống HIV/AIDS, dân số và phát triển, chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, đến phòng chống các bệnh không lây nhiễm... dấu ấn của truyền thông hiện diện trong hầu hết các hoạt động của ngành.
Ảnh: Một buổi truyền thông tại hộ gia đình của cán bộ TYT xã Ngọc Lặc
Đặc biệt, đại dịch COVID-19 đã cho thấy rõ hơn bao giờ hết sức mạnh của truyền thông y tế. Trong những ngày cả nước căng mình chống dịch, hàng triệu người dân đã tiếp cận các thông điệp phòng chống dịch từ báo chí, truyền hình, mạng xã hội và hệ thống truyền thông cơ sở. Những khuyến cáo tưởng chừng đơn giản như đeo khẩu trang, sát khuẩn tay, giữ khoảng cách, tiêm vắc xin đã trở thành những hành động phổ biến trong cộng đồng, góp phần quan trọng vào thành công của cuộc chiến chống đại dịch.
Khác với nhiều lĩnh vực khác, truyền thông y tế không cho phép sự chủ quan hay cảm tính. Mỗi thông tin được công bố đều liên quan trực tiếp đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng con người. Một thông tin thiếu kiểm chứng có thể gây hoang mang dư luận. Một nội dung chưa chính xác có thể dẫn đến những hành vi sai lầm trong chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, người làm truyền thông y tế luôn phải đặt trách nhiệm lên hàng đầu.
Để hoàn thành một tin, bài hay một phóng sự về y tế, người làm nghề không chỉ cần kỹ năng báo chí mà còn phải tìm hiểu kỹ các kiến thức chuyên môn. Những thuật ngữ y học phức tạp cần được chuyển tải thành ngôn ngữ dễ hiểu. Những khuyến cáo chuyên ngành cần được diễn giải theo cách gần gũi để người dân có thể tiếp nhận và áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Có những bài viết được hoàn thành sau nhiều ngày tìm hiểu tài liệu, tham vấn chuyên gia và đối chiếu thông tin. Có những phóng sự được thực hiện tại các vùng dịch, khu vực miền núi xa xôi hay những địa bàn còn nhiều khó khăn. Có những chương trình truyền thông được chuẩn bị kỹ lưỡng chỉ để truyền tải một thông điệp ngắn gọn nhưng chính xác và dễ nhớ. Song ít người biết rằng, phía sau những sản phẩm truyền thông ấy là những cán bộ truyền thông y tế đang âm thầm làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất. Họ vừa là người kể chuyện, vừa là cầu nối giữa khoa học và cộng đồng, giữa ngành y tế và người dân.

Ảnh: Một buổi tác nghiệp tại cơ sở của Phóng viên Khoa Truyền thông GDSK- CDC Thanh Hóa
Những người làm truyền thông y tế trong thời đại số
Nếu như trước đây, hoạt động truyền thông chủ yếu diễn ra trên báo in, phát thanh, truyền hình và các buổi truyền thông trực tiếp thì hiện nay môi trường truyền thông đã thay đổi rất nhanh. Mạng xã hội, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra những cơ hội mới nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với người làm nghề. Thông tin được lan truyền với tốc độ chưa từng có. Chỉ trong vài phút, một nội dung có thể tiếp cận hàng chục nghìn người. Tuy nhiên, đi cùng với đó là sự xuất hiện của tin giả, tin sai sự thật, các quảng cáo thiếu căn cứ khoa học về thuốc, thực phẩm chức năng và các phương pháp điều trị chưa được kiểm chứng.
Trong cuộc cạnh tranh khốc liệt của dòng chảy thông tin, những nội dung chính thống đôi khi phải nỗ lực rất nhiều để thu hút sự chú ý của công chúng. Điều này đòi hỏi người làm truyền thông y tế không chỉ giỏi chuyên môn mà còn phải liên tục đổi mới tư duy và phương pháp tiếp cận. Họ phải học cách kể chuyện bằng hình ảnh, video, infographic, podcast; phải biết vận dụng công nghệ để đưa kiến thức y học đến gần hơn với người dân. Không còn là công việc của riêng cây bút hay chiếc máy ảnh, truyền thông y tế hiện đại yêu cầu mỗi cán bộ phải trở thành một “phóng viên đa năng”. Họ có thể viết bài, quay phim, chụp ảnh, dựng video, thiết kế đồ họa, quản trị mạng xã hội và tương tác với cộng đồng trên nhiều nền tảng khác nhau. Đó là áp lực không nhỏ nhưng cũng là động lực để đội ngũ truyền thông y tế không ngừng trưởng thành và thích ứng với xu thế phát triển mới.
Ảnh: Một buổi ghi hình phỏng vấn của Phóng viên Khoa Truyền thông GDSK tại CDC Thanh Hóa
Những trăn trở phía sau nghề nghiệp thầm lặng
Dù đóng vai trò quan trọng, công tác truyền thông y tế vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn. Tại nhiều đơn vị, lực lượng làm truyền thông còn mỏng, phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm. Không ít người vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa đảm nhận công tác truyền thông. Điều kiện về trang thiết bị, kinh phí cho các hoạt động truyền thông ở một số nơi còn hạn chế.
BSCKII Lê Hồng Sơn – Phó Giám đốc CDC Thanh Hóa khẳng định: “Dù còn những khó khăn, trăn trở, nhưng công tác truyền thông vẫn luôn chủ động, duy trì và theo những diễn biến của dịch bệnh. Truyền thông y tế cần được quan tâm nhiều hơn nữa bởi nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe của người dân, không chỉ cung cấp thông tin kịp thời, khuyến cáo phòng chống dịch bệnh hay tư vấn chăm sóc sức khỏe mà truyền thông y tế còn góp phần đưa chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực y tế đến với người dân và củng cố niềm tin của người dân đối với những chính sách đó”.
Trong bối cảnh ngành y tế đang đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng y tế thông minh và lấy người dân làm trung tâm phục vụ, công tác truyền thông cần được quan tâm đầu tư tương xứng hơn nữa. Điều đó không chỉ là đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị hay kinh phí, mà còn là đầu tư cho nguồn nhân lực truyền thông chuyên nghiệp. Cần tạo điều kiện để đội ngũ làm công tác truyền thông y tế được đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn và kỹ năng truyền thông hiện đại.
Ảnh: Dựng chương trình tại Khoa Truyền thông GDSK
Ảnh: Khoa Truyền thông GDSK tác nghiệp tại Bệnh viện Nhi Thanh Hóa
Kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam là dịp để nhìn lại những đóng góp của đội ngũ những người làm báo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong dòng chảy ấy, những người làm truyền thông y tế có thể không xuất hiện nhiều dưới ánh đèn sân khấu, nhưng họ vẫn đang lặng lẽ thực hiện sứ mệnh của mình. Mỗi bản tin cảnh báo dịch bệnh, mỗi bài viết tư vấn sức khỏe, mỗi thước phim về những tấm gương thầy thuốc hay mỗi chương trình truyền thông cộng đồng đều mang trong đó một mong muốn chung: giúp người dân khỏe mạnh hơn, hiểu biết hơn và chủ động hơn trong việc chăm sóc sức khỏe.
Và có lẽ, phần thưởng ý nghĩa nhất đối với họ không chỉ là một tác phẩm được ghi nhận, mà là khi thông điệp được cộng đồng đón nhận, khi kiến thức trở thành hành động, khi những nguy cơ được ngăn chặn từ sớm và khi sức khỏe của người dân được bảo vệ tốt hơn. Bởi hơn tất cả, truyền thông y tế là công việc mà mỗi thông điệp đều được viết bằng trách nhiệm, và mỗi sự lan tỏa đều bắt nguồn từ trái tim của những người làm nghề.